Tin tức - Sự kiện
2010-03-04
Vinashin với Chiến lược biển Việt Nam

Vinashin với Chiến lược biển Việt NamBiển và thềm lục địa Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế biển có thể mang lại 55% GDP vào năm 2020 cho đất nước - Đó là nhận định được đề cập trong Chiến lược biển của nước ta.

Thế kỷ XXI được gọi là “Thế kỷ đại dương”, và các quốc gia có biển đều quan tâm, coi trọng việc xây dựng chiến lược để vươn ra biển. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Biển Việt Nam rất rộng, gấp 3 lần diện tích đất liền, có 3.260km bờ biển với hàng trăm vị trí thuận lợi để xây dựng cơ sở đóng tàu, cảng biển. Một quốc gia mà từ buổi đầu mở nước, dựng nước đã rất coi trọng biển thì vấn đề xây dựng chiến lược biển để làm giàu, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là điều vô cùng cần thiết và cần ưu tiên.

Nhưng muốn ra biển, trước hết phải đóng tàu. Muốn đóng tàu phải có cơ sở công nghiệp. Thực ra chúng ta đã làm việc này từ rất lâu. Nhưng đến thời điểm hiện nay thì quy mô phải khác, tốc độ phải khác, vì Việt Nam phải hội nhập, phải xuất khẩu và phải tiêu dùng cho chính mình.

Vinashin là một Tập đoàn mà sứ mệnh trong Chiến lược biển là phát triển công nghiệp đóng tàu, nhằm xây dựng đội tàu mạnh để phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, tạo điều kiện đảm bảo an ninh, an toàn cho những người hoạt động trên biển, đảo...

Những năm qua, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã xây dựng một số trung tâm ở cả ba miền đất nước. Ở một số khu vực, sự phát triển công nghiệp đóng tàu đã đi trước, phù hợp với định hướng của Đảng.

Sự phát triển của Vinashin trong những năm gần đây tương đối nhanh. Nhưng nếu so với mục tiêu phấn đấu trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đạt trên 1/2 GDP của cả nước vào năm 2020, thì sự phát triển về công nghiệp đóng tàu phải có bước tiến nhanh hơn nữa. Công nghiệp đóng tàu chính là cơ sở hạ tầng của kinh tế biển. Và hạ tầng cơ sở bao giờ cũng phải đi trước. Phát triển hệ thống cảng biển đạt tiêu chuẩn, chính là cửa mở ra biển và nối thông với quốc tế. Đặt đúng vị trí của công nghiệp đóng tàu và hệ thống cảng biển trong Chiến lược biển, có nghĩa là phải đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh. Động lực để thực hiện những vấn đề này chính là phát triển khoa học công nghệ cùng với chiến lược đào tạo nguồn nhân lực.

Trên bản đồ, công nghiệp đóng tàu đã phân bố khắp các miền, thực hiện chiến lược đưa công nghiệp biển phát triển để tận dụng lợi thế về địa lý và nguồn nhân lực. Có thể nói khắp vùng duyên hải đã có mặt công nghiệp đóng tàu-Đó là tầm nhìn chiến lược và những đột phá những năm đầu thế kỷ XXI.

Quy mô mở rộng và thực lực Vinashin đã đạt được kết quả phát triển công nghiệp đóng tàu tới mức nào? Vinashin xác định ở thời điểm này các cơ sở đóng tàu trong cả nước đều có khả năng đóng được tàu 10.000 DWT. Một số đơn vị lớn có thể đóng những loại tàu lớn hơn: 53.000 DWT, 100.000 DWT, sau đó là các loại tàu 300.000 DWT và tàu chuyên dùng khác.

Đối với công tác thiết kế, một số loại tàu Việt Nam đã tự thiết kế. Vấn đề quan trọng hiện nay là phải sản xuất được thép tấm chuyên dụng và những phụ kiện khác cho tàu.

Tập đoàn Vinashin ấn định tỷ lệ đóng tàu và tỷ lệ sản xuất phục vụ đóng tàu là 50/50, thể hiện quan điểm nắm thế chủ động để hội nhập. Cùng với việc mở rộng nhiều nhà máy đóng tàu, sản xuất phụ kiện đóng tàu là đào tạo nguồn nhân lực. Với một quy mô lớn như hiện có, nhu cầu về lực lượng lao động và cán bộ quản lý là rất cao. Do đó, việc cần phải làm là giải quyết tốt vấn đề xã hội, vấn đề con người để nhanh chóng có được đội ngũ lao động và quản lý đáp ứng sự phát triển “nóng” của công nghiệp đóng tàu.

Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Công nghiệp đóng tàu phải tạo được tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao và có tầm nhìn dài hạn. Nhưng một câu hỏi cũng được đặt ra: để phát triển kinh tế biển, trong đó có công nghiệp đóng tàu, cần số vốn bao nhiêu? Gần đây báo chí đã nói đến dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, dự kiến là 33 tỷ USD với 6 năm xây dựng. Đây là tuyến đường sắt từ Ngọc Hồi đến gần TP. Hồ Chí Minh, phục vụ vận tải nội địa và chỉ vận chuyển hành khách. Từ dự án ấy, chúng ta có thể suy ra, để có công nghiệp đóng tàu, để có các cảng đạt tiêu chuẩn quốc tế, để có những tuyến luồng đạt chuẩn cho tàu chạy, thì số vốn đầu tư khổng lồ đến cỡ nào. Phát triển kinh tế biển để Việt Nam trở thành một quốc gia biển là điều phải hướng tới ngay từ những năm đầu thế kỷ XXI này.

(Theo VnExpress.net)

Preview     Next